Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

CHƯƠNG 1 - Trước cả Sự Bắt Đầu (UPDATE)


CHAPTER 1
CHƯƠNG 1

Before the Beginning
(of human-life on Earth).

Trước cả Sự Bắt Đầu
(của cuộc sống con người trên Trái đất).

1:1 Thousands of Earth years ago, far away, in THIS galaxy, on the Morning Star (Rev. 2:28), the Lord Guardian Of Divinity, King (Malachi 1:14), Ruler and Guardian of the Universe (Sura 23:86), put down a revolution led by Lucifer (Iblis)(Rev. 12:7-9).

1:1 Hàng ngàn năm Trái đất trước, xa thật xa, trong thiên hà NÀY, trên Ngôi Sao Mai (Khải-huyền 2:28), Chúa Thánh Linh Hộ Thần, Thượng Đế (Malakhi/Ma-la-chi 1:14), Đấng Trị Vì Vũ Trụ (Sura 23:86) đã dập tắt một cuộc bạo loạn khởi xướng bởi Lucifer/Lu-xi-phơ (Iblis)(Khải-huyền 12:7-9).

1:2 The Morning Star (Venus) is inhabited by immortal “Beings of Light” (Spirit/Energy), whose civilization, based on “pure” love, is zillions of years old.

1:2 Ngôi Sao Mai (Sao Kim) là nơi sinh sống của các “cư dân Ánh Sáng” bất tử (Linh hồn/Năng lượng), nền văn minh của họ, dựa trên tình yêu "thanh khiết", tồn tại đã rất lâu, không thể đếm tuổi.

1:3 Lucifer; now known here on Earth as Satan (the Opposer) the Devil (the Liar/Slanderer)(RED dragon/serpent - Rev. 12:3, 9) from which the word D/evil is derived; because of his selfish and arrogant nature, wanted to over-throw the Lord and to take His place, so that he could rule, and inflict his own selfish opinion and evil desires on the heavens. He encouraged and misled many of the other inhabitants of the Morning Star; whom people on Earth know by the name Angels; to join him and he then started a war, against God (Rev. 12:7 & Isaiah 14:13-14).

1:3 Lucifer, bây giờ được biết đến trên Trái đất với tên gọi Satan (kẻ Đối Nghịch)  Ma Quỷ (Tên Dối Trá/Kẻ Vu Khống)(rồng sắc ĐỎ/con rắn xưa Khải-huyền 12:3,9) gốc của từ Quỷ/ác (D/evil), bởi bản chất ích kỷ và kiêu ngạo của mình, đã muốn lật đổ Thượng Đế, để dành lấy vị trí của Ngài, hòng để hắn có thể cai trị, và áp đặt ý riêng ích kỷ cùng những tham vọng xấu của hắn trên các tầng trời. Hắn đã kích động và lừa dối nhiều cư dân Sao Mai, được biết đến trên Trái đất với tên gọi các Thiên Thần, cùng tham gia và sau đó hắn bắt đầu một cuộc chiến, chống lại Thiên Chúa (Khải-huyền 12:7 & Isaia/Ê-sai 14:13-14).

1:4 Angels do not carry harps or have wings, they merely have a melodic sounding type of voice and they can fly. The very simple mentality of the people of the early biblical days; who had never seen anything on Earth flying, unless it had wings; led to the myth about angels.

1:4 Các Thiên Thần không mang đàn hạc hay có cánh, giọng nói Thiên Thần đơn thuần tạo giai điệu và họ có thể bay. Do tâm trí đơn giản của người dân thuở ban đầu, những người chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ vật gì trên trái đất bay, trừ khi nó có cánh, dẫn đến các tưởng tượng cổ về thiên thần.

1:5 Lucifer did not declare war and fight with honour, but sneaked around murdering and fought dishonourably (John 8:44 / King of kings’ Bible, John 8:35), as ALL terrorists do.

1:5 Lucifer đã không tuyên chiến và chiến đấu trong danh dự, mà đã lén lút chạy quanh tàn sát với kiểu đánh hèn hạ  (Gioan/Giăng 8:44 / King of kings’ Bible, John 8:35), như cách MỌI kẻ khủng bố làm.

1:6 Prince Michael, God’s eldest son; known by many names here on Earth, one of which is Jesus/Saviour, Commander-in-Chief of the JEDI Knights, who have been the guardians of the heavens for zillions of years; fought with his knights, using the “Light” and “The Force”, which is the force of love. God, Who is pure love and the source and controller of His “Force”; love, the greatest force in creation; defeated Lucifer and his followers, some of whom were misled, by lies, into fighting against God.

1:6 Hoàng tử Michael (Mai-cồ/Mi-xen), con trai trưởng của Thiên Chúa (được biết đến với nhiều tên gọi trên Trái đất, một trong số đó là Chúa Giêsu/Chúa Cứu Thế), là Đại tướng/Chỉ huy trưởng của các hiệp s JEDI, là các vị có nhiệm vụ bảo vệ cho các tầng trời tự thuở sơ khai, đã chiến đấu cùng các hiệp sỹ của mình, sử dụng “Ánh Sáng/Sự Thật” và “Sức Mạnh/The Force”, là sức mạnh của tình yêu. Thiên Chúa, Ngài là tình yêu thánh khiết và là cội nguồn, là nguồn kiểm soát Sức Mạnh đó, tình yêu là sức mạnh vô thượng trong tạo hóa, đã đánh bại Lucifer và đồng đảng hắn, một trong số họ đã bị lừa, bởi những lời dối trá, vào cuộc chiến chống lại Thiên Chúa.

1:7 Unlike Lucifer, who would have spared no-one, the Lord, in His infinite Wisdom and compassion, decided to demonstrate His love and mercy, to His enemies. God; knowing that Lucifer had invented lying (John 8:44 / King of kings’ Bible, John 8:35), and had deceived many weakwilled angels into following him; decided not to execute them immediately, but to give them a chance to learn the ERROR of their ways. If they GENUINELY repented, within a pre-set period of time, He would spare them; if not, He would have no alternative but to destroy them (Malachi 4:6)(John 3:17-18 & 5:24-25).

1:7 Không như Lucifer, là kẻ không tha một ai, Thiên Chúa, trong sự Thông Tháitừ bi vô hạn, đã quyết định tỏ rõ tình yêu và lòng thương xót, đối với kẻ địch của Ngài; biết rằng Lucifer đã tạo nên việc nói dối (Gioan/Giăng 8:44 /King of kings’ Bible", John 8:35), và đã lừa dối nhiều thiên thần (thiếu lập trường) về phe hắn; nên Ngài quyết định không trừng phạt họ ngay lập tức, cho họ một cơ hội để học cách sửa SAI. Nếu họ THẬT LÒNG sám hối, trong một khoảng thời gian được định sẵn, Ngài sẽ dành cho họ con đường sống, nếu không, Ngài buộc phải tiêu diệt họ vì không còn cách nào khác (Ma-la-chi 4:6) (Gioan/Giăng 3:17-18 & 5:24-25).

1:8 The Lord then had to decide what to do with His prisoners, so that they could do no more harm, and could be safely taught to be good. Being spirit/energy (Luke 9:55), they could not be punished; only destroyed, using “Fire” (not earthly fire); because they feel no PAIN and have no needs (Rev.7:16).

1:8 Thiên Chúa sau đó phải chọn cách xử trí với các tù linh của Ngài, sao cho họ không thể gây hại nữa, và có thể được dạy dỗ nên thành. Bởi là linh hồn/năng lượng (Luca 9:55), họ không thể bị phạt; chỉ có thể bị tiêu diệt, dùng "Lửa Trời" (không phải lửa trần); vì họ không có cảm giác ĐAU và không có nhu cầu (Khải-huyền 7:16).

1:9 Not executing Lucifer and his angels, outright, created quite a difficult situation.

1:9 Không tiêu diệt Lucifer và các thiên thần theo hắn, ngay lập tức, đã tạo nên một tình huống khá khó.

1:10 They had to be taught to keep the twelve laws of heaven; THE TWELVE COMMANDMENTS (see appendix); ten of which were given to Moses on Mount Sinai (Exodus 20:1-17), and the eleventh and twelfth, which were given later-on, by Jesus; one of which God demonstrated and still demonstrates, i.e. “love your enemies into being good.” He did this by giving you a chance, and the opportunity of learning to be good, even though you had intended, and actually tried, to kill Him. This demonstrates perfectly, God’s gentle use of strength.

1:10 Họ cần được dạy
cách giữ mười hai điều luật của thiên đàng; MƯỜI HAI ĐIỀU RĂN (xem phụ lục), mười trong số đó đã được trao cho Môsê trên núi Sinai (Xuất hành/Xuất Ê-dip-tô ký 20:1-17), điều mười một và mười hai, đã được dạy sau đó, bởi Chúa Giêsu; một trong hai điều đó Thiên Chúa đã thực tỏ và vẫn còn đang giảng giải và thể hiện, đó là "yêu thương kẻ thù của mình để họ cải tà qui chánh." Ngài đã làm vậy bằng cách cho con một cơ may, và một cơ hội để học điều ngay lẽ phải, ngay cả khi con đã từng lập mưu, và thực sự cố gắng, để ám hại Ngài. Điều này thể hiện hoàn hảo, sự nhơn từ của Thiên Chúa khi dụng sức. 

1:11 Jesus gave the new COMMANDMENT, “Love one another as I have loved you,” to his disciples (John 13:34 & 15:12). He was telling them to love their enemies, and to teach them, by loving them, because the disciples had originally been his enemies, in the war (Rev. 12:7), or they would not have been here, in prison (Isaiah 14:12-15)(Luke 9:55 & Rev. 12:8)(Sura 17:8 & 83:7).

1:11 Chúa Giêsu ban điều RĂN mới, "Hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu các con", cho các môn đ (Gioan/Giăng 13:34 & 15:12). Chúa Giêsu nói với họ hãy yêu thương kẻ thù, và Chúa dạy họ, bằng cách yêu thương họ, bởi các môn đ trước đây từng là kẻ  địch của Chúa, trong cuộc chiến (Khải-huyền 12:7), nếu không họ đã không ở đây, trong tù này (Ê-sai 14:12-15) (Lu-ca 9:55 & Khải-huyền 12:8) (Sura 17:8 & 83:7).

1:12 Loving your enemies does NOT mean allowing them to do evil, or to get away with doing evil; or allowing them to persuade YOU to do evil things; or to stop YOU from doing what God wants YOU to do. Just like when Satan used Peter, to try to stop Jesus from doing God’s Will, and Jesus said to Satan, who was speaking through Peter, “Get thee behind me Satan” (Matt. 16:23).

1:12 Yêu thương kẻ thù của con KHÔNG có nghĩa là để mặc họ làm điều sai, hay làm ngơ cho họ thoát tội; hoặc cho họ cơ hội thuyết phục CON làm theo những điều sai, hoặc để họ ngăn CON làm điều Thiên Chúa muốn CON làm. Cũng giống như khi Satan sử dụng Phi-e-rơ/Phêrô, để cố ngăn chặn Chúa Giêsu thực hiện Thánh Ý Thiên Chúa, và Chúa Giêsu nói với Satan, ai đang nói qua Phêrô, "Satan, hãy lui ra" ( Ma-thêu/Ma-thi-ơ 16:23).

1:13 The twelfth COMMANDMENT, also given later, by Jesus, is: “YOU shall NOT judge.” He who judges another, condemns himself (Matt. 7:1). This applies to ALL of you, especially in your courts. God has given HIS Judgements and Laws, as well as THE COMMANDMENTS, and anyone else’s judgements and laws are TOTALLY UNLAWFUL. IF everyone kept THE COMMANDMENTS there would be absolutely no problems on Earth.

1:13 Điều RĂN thứ mười hai, được Chúa Giêsu truyền dạy: "CON KHÔNG được xét đoán." Ai xét đoán kẻ khác, là tự mang tội vào thân (Ma-thêu/Ma-thi-ơ 7:1). Điều này áp dụng cho TẤT CẢ các con, đặc biệt trong các phiên tòa các con tự lập nên. Thiên Chúa đã ban cho các Phán Quyết Luật Pháp của NGÀI, cùng các ĐIỀU RĂN. Nghĩa là các phán quyết và luật pháp khác con người tự lập TẤT CẢ đều BẤT HỢP PHÁP.  Nếu các con biết giữ các ĐIỀU RĂN thì đã hoàn toàn không có vấn đề gì trên Trái Đất.

1:14 All the prisoners were given suspended death-sentences, UNLESS they learned to be good. Those death-sentences still stand, and are only suspended until Judgement Day. YOU still are under the shadow of the DEATH-SENTENCE (Exodus 34:6-7)(John 3:17-18 & 5:24-25).

1:14 Tất cả các tù linh
đều bị xử tội chết và đang chịu án treo, TRỪ KHI các con cải tà quy chánh. Tội chết của các con vẫn còn đó, và chỉ chờ Ngày Phán Xét. CÁC CON vẫn còn là những tử tội chờ bị hành hình. (Xuất hành/Xuất Ê-dip-tô ký 34:6-7) (Gioan/Giăng 3:17-18 & 5:24-25).

I have already stated, in the introduction, that this Book is fact, NOT fiction. The word JEDI is an abbreviation for JEsus DIsciple.

Ta đã viết trong phần giới thiệu, rằng Sách này gồm các sự kiện thật, KHÔNG phải hư cấu. JEDI từ là chữ viết tắt của môn đệ Chúa Giêsu (JEsus DIsciple) .

Before any of you start to fall into the trap, of mistakenly thinking that this Book is a science-fiction novel; based on “Star Wars”, by George Lucas, just because I have used the word JEDI; I am going to explain to you, something that George Lucas does not know, yet.

Trước khi các con bắt đầu, sai lầm nghĩ rằng Sách này là sách khoa học viễn tưởng, dựa trên “Chiến Tranh giữa Các Vì Sao", của George Lucas, chỉ vì ta đã sử dụng từ JEDI; ta sẽ giải thích cho con, điều mà George Lucas cũng chưa được biết. 

George Lucas, quite naturally, believes that he wrote “Star Wars”, but, in reality, he was told, telepathically, what to write, in Episodes IV-VI inclusively, and then forced to make those episodes first, by the very “Force” to which the “Star Wars” films refer, as a very important step in the preparation of mankind, for the long awaited truth, about the real reasons for human life on Earth (what on Earth am I doing here?); the meaning of life and its purpose, contained in THIS Book. This Book is science-fact. YODA is an abbreviation and refers to a training-book.

George Lucas, hoàn toàn tự nhiên, tin rằng ông đã viết "Chiến Tranh giữa Các Vì Sao", nhưng thực ra ông đã được chỉ cho, bằng thần giao cách cảm, những gì cần viết, trong các tập IV-VI, và sau đó được bảo phải làm những tập đó trước, bởi chính “Sức Mạnh” mà các tập phim “Chiến Tranh giữa Các Vì Sao" nói tới, như là một bước đi rất quan trọng trong việc chuẩn bị cho nhân loại, đón nhận sự thật được chờ đợi từ lâu, về lý do thực sự của cuộc sống con người trên Trái Đất (Lý do tôi ở đây là gì?); đó là ý nghĩa và mục đích của cuộc sống, lý giải trong Sách NÀY. Sách Này là sự kiện khoa học thật. YODA là chữ viết tắt của một cuốn sách đào tạo (hiệp sỹ JEDI).

George Lucas, not understanding that he was being told telepathically, thinks that “Star Wars” came from his imagination, which is a perfectly normal human reaction, that many people have had over the centuries. Rudyard Kipling thought that he wrote “IF”; Oscar Wilde thought that he wrote “The Picture of Dorian Gray”; Joe Darian thought that he wrote the words to “The Impossible Dream”, and the list is endless. 

George Lucas, không biết ông đã được truyền ý bằng thần giao cách cảm, nên nghĩ  rằng "Chiến Tranh giữa Các Vì Sao" đến từ trí tưởng tượng của mình, đó là một phản ứng hoàn toàn bình thường của con người, rất nhiều người trước đây cũng vậy. Rudyard Kipling nghĩ rằng ông đã viết "Nếu"; Oscar Wilde nghĩ rằng ông đã viết "Chân Dung của Dorian Gray"; Joe Darian nghĩ rằng ông đã viết ca từ của "Giấc mơ bất khả", và danh sách này thật vô tận.

Although “Star Wars” is set as sci-fi, in a distant galaxy, to make it entertaining, it actually refers to this galaxy and life on Earth, and contains the truth, which is demonstrated symbolically.
What Luke Skywalker learns, during the “Star Wars” films, Episodes IV-VI inclusive, is what each and every one of you HAS to learn, to be able to survive, get out of here and go HOME. Episodes I-III are meaningless fiction.

Mặc dù "Chiến Tranh giữa Các Vì Sao" được thiết lập giống phim khoa học viễn tưởng, trong một thiên hà xa xôi, để tăng tính cuốn hút, nó thực ra đề cập đến thiên hà này và cuộc sống trên Trái Đất, và nó cũng chứa đựng sự thật, đã được thể hiện theo cách nói hình tượng. 
Những gì Luke Skywalker học, trong các tập phim "Chiến Tranh giữa Các Vì Sao", tập IV-VI, là những gì mỗi một các con CẦN PHẢI học, để có thể sống sót, rời khỏi đây và Trở Về (NHÀ). Các tập I-III là những hư cấu vô nghĩa.

Xem tiếp Chương 2

Download the FREE PDF version at: http://thewayhomeorfacethefire.net/
All correspondence please to jah@gibraltar.gi or to:-
JAH, JAH Publications, P. O. Box 561, The Way Home - PMB 205, Gibraltar, (Via London).

Any support or donations to assist in our on-going research and promotion of "The Long Awaited Truth of All Things on Planet Earth" would be very much appreciated.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét