Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

The Story of Adam and Eve - Câu chuyện về Ađam và Êva

4:6 The simple story; of Adam (man) and Eve (woman), and the trees of the “Knowledge of Good” (God) and the “Knowledge of Evil” (d/evil); seems never to have been understood, by anyone on Earth, and yet it is very straight-forward, and easy to understand.

4:6 Câu chuyện đơn giản, của Adam (đàn ông) và Eve (phụ nữ), và các cây nguồn "Kiến thức về điều Tốt lành" (Thiên Chúa) và "Kiến thức về điều Xấu" (Satan); dường như chưa bao giờ được hiểu đúng, bởi bất cứ ai trên trái Đất, và nó thực sự rất dễ hiểu, và dễ dàng để hiểu.

4:7 God walked in the Garden of Eden with Adam and Eve, and talked with them, teaching them to eat (digest) the “Knowledge of Good” (His truth), and warned them not to eat from the “Tree of the Knowledge of Evil” (Satan’s lies), or they would die.

4:7 Thiên Chúa đi trong Vườn Địa Đàng với Adam và Eve, và nói chuyện với họ, dạy họ ăn (lãnh hội) "Kiến thức về điều Tốt" (sự thật của Ngài), và cảnh báo họ không nên ăn từ "Cây nguồn Kiến thức về điều Xấu "(các lời dối của Satan), nếu ăn họ sẽ chết.

4:8 They already had access, to the fruit of the “Tree of the Knowledge of Good”, and were eating it, and, if they ate from the “Tree of the Knowledge of Evil”, they would then know that there was good, and evil, and become confused. In their confusion, they would never find their way home, and would die.

4:8 Họ đã biết đường vào, trái lành của "Cây nguồn Kiến thức về điều Tốt", và đang lãnh hội (ăn) nó, và, nếu họ ăn (trái đắng) từ "Cây nguồn Kiến thức về điều Xấu", họ sau đó sẽ biết rằng có tốt, và xấu, và sẽ lẫn lộn. Trong sự lẫn lộn của họ, họ sẽ không bao giờ tìm thấy đường về, và sẽ chết.

4:9 If they obeyed God, there would be no confusion, or conflict, in their minds, and they would learn only good, from God - the Tree (or source) of the Knowledge of Good (TRUTH), quickly and easily, and live forever. As they learned from God’s teachings, they would become more and more like Him, until, once they became enough like Him (like Jesus’ example), they would be pardoned and then released from this planet (Earth), and allowed to go home, back to their real homes and families, out in the Universe, and LIVE forever.

4:9 Nếu họ vâng lời Thiên Chúa, thì sẽ không có sự mơ hồ nào, hay xung đột, trong tâm trí họ, và họ sẽ chỉ học điều tốt, từ Thiên Chúa – Cây nguồn (hay suối nguồn) của Kiến thức về điều Tốt (SỰ THẬT), nhanh chóng và dễ dàng, và sống mãi. Khi họ học từ sự giảng dạy của Thiên Chúa, họ sẽ trở nên ngày một giống và giống Ngài hơn, cho đến khi, một khi họ đã trở nên đủ giống Ngài (như tấm gương Chúa Giêsu), họ sẽ được tha thứ và sau đó được phóng thích khỏi hành tinh này (Trái Đất), và được phép về nhà, trở về quê hương thật và gia đình thực sự của họ, trong Vũ trụ, và SỐNG mãi.

4:10 God was telling them: “In the day that you listen to that liar again, instead of to Me - eat from the Tree (source) of the Knowledge of Evil (lies) - you will die (Gen. 2:17 & Deut. 30:15).”

4:10 Thiên Chúa đã nói với họ: "Cái ngàycon nghe theo kẻ dối trá đó một lần nữa, thay vì Ta - ăn từ Cây (nguồn) của Kiến thức về điều Xấu (những lời dối trá) - con sẽ chết (Sáng thế ký 2:17 & Đệ nhị luật/Phục truyền luật lệ ký 30:15). "

4:11 The serpent (Satan the liar/devil) told Eve that God was lying to her, and that if she believed him, instead of God, she would be like God, which, of course, coming from the liar (devil), was a LIE.

4:11 Con rắn xưa (Satan kẻ nói dối/ma quỷ) nói với Eve rằng Thiên Chúa đang ghạt cô, và rằng nếu cô tin hắn, thay vì Thiên Chúa, cô sẽ trở nên giống như Thiên Chúa, , tất nhiên, đó là lời từ kẻ nói dối (ma quỷ), là một SỰ DỐI TRÁ.

4:12 Eve believed the liar (devil), instead of God, and convinced Adam to believe the liar too, repeating, for a second time, the “original sin” that had caused the war, and, from that day; EXACTLY as God (the TRUTH/WORD - John 1:1-5) told them; people have been dying ever since. So God told you the TRUTH, as He always does, and Satan deceived you all, yet again (Rev. 12:9), as he still does today.

4:12 Eve đã tin kẻ dối trá đó (ma quỷ), thay vì tin Thiên Chúa, và đã thuyết phục Adam tin theo hắn luôn, lặp lại, một lần nữa (lần thứ hai), "tội nghiệp căn nguyên (tội tổ tông, tội nguyên tổ, nguyên tội)" đã gây ra cuộc chiến xưa (trên Thiên Đàng), và từ ngày đó; ĐÚNG như Thiên Chúa (SỰ THẬT/NGÔI LỜI- Gioan/Giăng 1:1-5) đã nói với họ, con người bắt đầu chết kể từ đó. Cũng thế, Thiên Chúa đã nói với con SỰ THẬT, như Ngài luôn làm, và Satan đã lừa dối tất cả các con, một lần nữa (Khải huyền 12:9), như hắn vẫn làm cho đến ngày nay.

4:13 So the war, that Lucifer started in heaven, with his slanderous lies, has continued, in a war between good (God) and evil (devil), here on Earth, ever since, killing billions of human bodies.

4:13 Thế là cuộc chiến, Lucifer/Lu-xi-phơ đã khởi đầu trên trời, với những lời dối trá vu khống của hắn, vẫn tiếp diễn, trong cuộc chiến giữa thiện (Thiên Chúa) và ác (ma quỷ), ở đây trên Đất, từ đó, giết hại hàng tỷ cơ thể-người.

4:14 By believing the liar/devil, instead of God, Adam (man) and Eve (woman) were calling God a liar/devil, and the liar/devil God. God says: “Woe to those who call good (God), evil (devil) and evil, good”.

4:14 Bằng việc tin kẻ nói dối/ma quỷ, thay vì tin Thiên Chúa, Adam (đàn ông) và Eve (phụ nữ) đã và đang gọi Thiên Chúa là kẻ nói dối/ma quỷ, gọi kẻ nói dối/ma quỷ là Thiên Chúa. Thiên Chúa nói: "Khốn khổ cho những ai gọi điều thiện/tốt (Thiên Chúa), là điều ác/xấu (ma quỷ) và gọi điều ác, là điều tốt".

The Way home, Chapter 4
Trích từ Chương 4, Đường Về.
ARMAGEDDON SURVIVAL-PLAN - KEY. For Printed-Version please contact JAH@JAHTruth.net.
CHÌA KHÓA SINH TỒN TẬN THẾ - LIÊN HỆ JAH@JAHTruth.net để có bản in (tiếng Anh) hoặc download tại thewayhomeorfacethefire.net , địa chỉ không thể bỏ qua cho những ai đọc được tiếng Anh, http://jahtruth.net.

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2014

Health and Wealth. - December 26 / Sức khỏe và Sự giàu sang - 26 tháng 12



Be not afraid, health and wealth are coming to you both. My wealth which is sufficiency for your needs, and for My work you long to do.

Chớ lo lắng chi, sức khỏe và tài lộc đang đến với cả hai con (thân xác +Linh hồn). Của cải của Ta đủ chu cấp cho các nhu cầu con, và Việc ta giao con mong ngóng thực hiện.

Money, as some call wealth, to hoard, to display, you know is not for My Disciples.

Tiền tài, như một số nghĩ là của cải, để tích trữ, và phô trương, con biết điều đó không dành cho các Môn Đồ Ta.

Journey through this world simply seeking the means to do My Will and work. Never keep anything you are not using. Remember all I give you will still be Mine, only given to you to use. Could you think of Me hoarding My Treasures? You must never do it. Rely on Me.

Hành trình trên đất giản đơn ở việc tìm kiếm phương cách để thực hiện Ý Ta và thực hiện nó. Chớ giữ những thứ con không dùng. Nên nhớ những thứ Ta giao con sẽ vẫn là của Ta, chỉ giao cho con sử dụng. Con có thể tưởng tượng việc Ta tích trữ Của Cải? Con không được làm vậy. Dựa vào Ta.

To store for the future is to fear, and to doubt Me. Stop every doubt of Me at once. Live in the Joy of My constant Presence. Yield every moment to Me. Perform every task, however humble, as at My gentle bidding, and for Me, for love of Me. So live, so love, so work.

Tích trữ cho mai sau đến từ nỗi lo, và sự nghi ngờ Ta. Đừng nghi ngờ Ta thêm nữa. Sống trong niềm an vui vì luôn có Ta Hiện Hữu. Dành mọi khoảnh khắc cho Ta (Tình Yêu, Sự Thật, những Điều Tốt Đẹp). Làm phận sự con, dù chúng có khiêm nhường sao đi nữa, cho Ta, vì Ta, vì tình yêu dành cho Ta (Sự Thật).
Hãy sống, yêu thương, và làm.

Young are the Apostles of the Little Services.

Thanh niên là những Môn Đồ của những Trọng Trách Khiêm Nhường.

Miracle of the Ages. - December 25/ Phép Màu Vạn Kiếp - 25 tháng 12.


"And the Word was made flesh (incarnated)."
"Và Ngôi Lời đã hiện thân nên người phàm (Linh Hồn vào trong thân xác người/Giê-xu)

Word proceeding from the Father, the thought.
Lời đó đến từ Chúa Cha, ý nghĩ.

Dwell this evening upon this miracle of all ages. This stupendous fact of all mankind's history:-
Hãy nghiền ngẫm về nó, phép màu trong vạn kiếp nhân gian. Điều diệu kỳ.

God made man.
Đấng Sáng Thế làm nên loài người.

I came to restore to man his lost dignity. To show him that his physical and mental being could only be maintained at their intended height and power by constant communion with the Maker of man's being.
Ta đến để phục hồi lại phẩm cách cho loài người. Với gương sống của Ta, người ta nhận thấy thể trạng và tinh thần chỉ có thể đạt đến mức lý tưởng thông qua sự liên hệ không ngừng với Đấng Sáng Thế.

I came, God, to live with man, to show man how to live with God.
Ta đến, Thiên Chúa, để sống cùng loài người, và dạy họ cách sống cùng Thiên Chúa.

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

THE HOUSE OF GOD - KABA in Arabic NHÀ CỦA THIÊN CHÚA - TỪ KABA trong TIẾNG Ả RẬP

In the name of God, Most Gracious, Most Merciful.
THE HOUSE OF GOD - KABA in Arabic
Trong danh của Thiên Chúa, Đấng Độ Lượng và Bao Dung nhất.
NHÀ CỦA THIÊN CHÚA - TỪ KABA trong TIẾNG Ả RẬP


Sura 2:125 "Prostrate themselves therein" - the Temple site in Jerusalem (on Mt. Moriah - 2 Chronicles 3 v 1 - built by Solomon bin David - Sura 27:16).


Sura 2:125 “Sấp mình tại đó” - tại Đền ở Jerusalem (trên núi Moriah -  2 Sử Biên/Sử ký 3:1 - được xây bởi Solomon con của David - Sura 27:16).


People can NOT prostrate themselves inside the Kaba in Mecca. It is a black rock not a Temple or House of God and a rock is solid. It is impossible to prostrate oneself inside it. So this statement can NOT possibly refer to Mecca. It refers to Mt. Moriah in Jeru-salem (the City of Peace).


Người ta KHÔNG thể sấp mình bên trong Kaba (nhà Thiên Chúa) tại Mecca.  Nó là một hòn đá đen không phải Đền hay Nhà của Thiên Chúa và hòn đá thì rắn. Không ai có thể quỳ lạy gì bên trong nó được. Bởi vậy lời phán đó KHÔNG thể nói về Mecca. Đó là Đỉnh Moriah tại Jeru-salem (nghĩa là thành phố Hòa Bình).


Sura 2:126 And remember Abraham (who was a Hebrew - NOT Jewish) said: "My Lord, make this a City (Jeru) of Peace (salem) - Jeru-salem means "City of Peace".


Sura 2: 126 Và nhớ rằng Áp-ra-ham (người Hê-bơ-rơ - KHÔNG phải Do Thái) đã nói “Chúa của tôi, hay biến thành phố (Jeru) này thành thành phố Hòa Bình (salem) - Jeru-salem có nghĩa là “thành phố Hòa Bình”.
Sura 2:125 The House (of God) is the Station of Abraham where he offered Isaac in sacrifice (Mt. Moriah - Genesis 22 v 2) in the "City of Peace" - "Jerusalem".
Sura 2:125 Ngôi nhà (của Thiên Chúa) là nơi Áp-ra-ham dâng I-xa-ác/Y-sác (Đỉnh Moriah - Sáng thế ký 22 câu 2) tại “thành phố Hòa Bình” - “Jerusalem”.


Sura 2:144 Turn then thy face in the direction of the Holy Temple: wherever ye are turn your faces in that direction. The people of the Book (Bible) know well that that is the Truth from their Lord. Of course they know to turn their faces to Mt. Moriah in Jerusalem because the Book - Bible tells them to do so - that is why all churches face Jerusalem - read Genesis 22 v 2-3, 14; 2 Chronicles 3 v 1 & 6 v 20-21; 1 Kings 6 v 1-2, 11-14 and 1 kings 8 v 29-30 and Isaiah 56 v 7.


Sura: 2:125 Quay mặt về hướng của Đền Thánh. Những ai được ban cho Sách Đó (Kinh Thánh) biết rõ sự Thật đó từ Chúa của họ. Họ biết rõ phải hướng về Đỉnh Moriah tại Jerusalem vì Sách Đó (Kinh Thánh), Kinh Thánh nói họ làm vậy- lý do tất cả các nhà thờ hướng về Jerusalem - đọc Sáng Thế Ký 22 câu 2,3, 14; Sử ký 3 câu 1, Sử ký 6 câu 20 và 22, 1 các Vua 6 câu 1 và 2, 11 tới 14 và 1 các Vua 8 câu 29,30 và Isaia/Ê-sai 56 câu 7.


There is no reference in the Holy Koran to the city of Mecca by name nor by implication. ALL references, in the Holy Koran, to the City of Peace refer to Jerusalem NOT to Mecca. The word Mecca does not mean the City of Peace, the word Jerusalem DOES mean City of Peace in Hebrew.


Không có dẫn chứng nào từ Kinh Koran về thành phố Mecca bởi tên gọi hay ngụ ý. TẤT CẢ các dẫn chứng, từ Kinh Koran, về Thành phố Hòa Bình nói tới Jerusalem KHÔNG phải Mecca.  từ Mecca không có nghĩa thành phố Hòa bình, từ Jerusalem mới có nghĩa Thành Phố Hòa Bình trong tiếng Hê-bơ-rơ.


Ishmael's mother, who was called Hagar, was an Egyptian and was the hand-maiden (servant) of Sarah who was Abraham's first and legitimate wife.


Mẹ của Ít-ma-ên, được gọi là Ha-ga, là người Ai-cập và là nô tì của bà Xa-ra, vợ đầu và chính thức của ông Áp-ra-ham.


The well of Beer-lahai-roi, where Hagar went whilst pregnant with Ishmael when she ran away the first time, is between Kadesh-Barnea and Bered (South of Beersheba) on the route to Egypt, her home-land.


Giếng La-khai Rô-i/La-chai-Roi nơi bà Ha-ga đến khi mang thai Ít-ma-ên, nằm giữa Ca-đê và Be-rét (phía nam Bơ-e Se-va/Bê-e-Sê-ba) trên đường tới Ai-cập, quê bà.


Sarah sent Hagar away with Ishmael and she naturally went towards Egypt her home-land NOT to Mecca. They went to Beer-sheba in Paran on the edge of the Negev desert, as is stated by God in the Book of Genesis that God gave to Moses.


Xa-ra đuổi Ha-ga đi cùng với Ít-ma-ên và bà về Ai cập, quê bà KHÔNG phải tới Mecca.  Họ đến Bê-e-Sê-ba ở Pha-ran, sa mạc Ne-ghép/Nam Phương, được nói tới trong Sáng Thế ký mà Thiên Chúa đã đưa cho Mô-se.


On both occasions when Hagar left Abraham she went towards Egypt her home-land, which is quite a natural thing to do.


Hai lần Ha-ga rời bỏ Áp-ra-ham bà đều về Ai-cập quê hương bà, đó cũng là điều tự nhiên người ta làm.


Hagar found Ishmael an Egyptian wife. They did not go to or live in Mecca. Mecca is more than 1000 miles from Mt. Moriah across desert and much too far away for Ishmael to hear of Abraham's death and be able to return in time to assist Isaac with Abraham's burial (Genesis 25 v 9).


Ha-ga tìm cho Ít-ma-ên một người vợ người Ai cập. Họ không đến và sống ở Mecca. Mecca cách Đỉnh Moriah hơn 1000 dặm vượt sa mạc và nó quá xa để Ít-ma-ên có thể biết tin Áp-ra-ham qua đời và có thể về kịp và cùng Y-sác làm đám tang cho Áp-ra-ham (Sáng thế ký 25 câu 9).


The story about Mecca was made up by the Meccans to advertise and promote Mecca (in their advertising brochure - the Hadith) and is a complete fabrication. It has NOTHING to do with the Holy Koran. The Hadith contradicts God's Koran.


Câu chuyện về Mecca được người Mecca bịa ra để quảng cáo và tiếp thị cho Mecca ( trong brochure quảng cáo của họ, sách Hadith) và nó toàn chém gió. Nó KHÔNG có gì liên quan đến Kinh Koran. Sách Hadith nói ngược Kinh Koran của Thiên Chúa.


If people read the Bible they would know that they have to make the Pilgrimage (Haj) to Jerusalem not to Mecca and the Meccans would lose all the money they make from the Pilgrims.


Nếu người ta đọc Kinh Thánh thì họ sẽ biết rằng họ phải hành hương (Haj) về Jerusalem không phải tới Mecca và người Mecca sẽ mất rất nhiều tiền kiếm được từ những người hành hương.


The Meccans then had to discredit the Bible, to stop people from reading it and finding out the Truth, so they (Khadijah's cousin Waraquah according to the Vatican's archives) changed the name Isaac for the name Ishmael in Sura 2:125 and 2:127 and claim that the king James Bible is not the True Bible and that the True Bible no longer exists, so no-one can read it. All of which is a LIE and evil Meccan propaganda. Now people read the Hadith and its version of the Koran, instead of reading the Koran itself.


Bởi vậy người Mecca đã hạ uy tín của Kinh Thánh, để ngăn mọi người đọc nó và tìm ra sự Thật, và họ (Waraquah, là em họ của Khadijah [vợ nhà tiên tri Mohammed Mustafa, bà này là người Công Giáo]. Theo tài liệu lưu trữ của Vatican) đổi tên Y-sác thành Ít-ma-ên trong Sura 2:125 và 2:127 và tuyên bố Kinh Thánh vua James không phải là Kinh Thánh Thật và Kinh Thánh Thật không còn tồn tại. Tất cả đều là lời DỐI TRÁ và là lời tuyên truyền lừa ghạt của người Meccan. Giờ đây người ta đọc sách Hadith và các phiên bản của nó về Kinh Koran, thay vì đọc Kinh Koran.


The Hadith has made it impossible for Moslems to understand the Koran's true meaning and to read the Bible and fulfill God's Covenant as God commands them to do in the Koran - Suras 16:91 and 5:8 and that is exactly what the Meccans wanted.


Sách Hadith đã gây nhiễu loạn và khiến người Hồi Giáo không thể hiểu được ý nghĩa của Kinh Koran, và ngăn họ đọc Kinh Thánh để hoàn thành Giao Ước của Thiên Chúa, như Thiên Chúa đã truyền dạy họ phải làm, như được chép trong Kinh Koran, Suras 16:91 và 5:8 và đó chính là điều người Mecca muốn.


Mecca was an evil place when Mohammed Mustafa was born and the Meccans drove him and the TRUE KORAN out because it was about Jerusalem and would have ruined their pilgrimage-business to their black rock and idol-worship.


Mecca là một nơi gian trá thời Mohammed Mustafa (lúc ông được sanh ra) và người Mecca từ chối ông và KINH KORAN thật bởi nó viết về Jerusalem và sẽ hủy hoại công việc kinh doanh hành hương cũng như tảng đá đen và việc thờ cúng thần tượng của họ.


After Mohammed's death the Meccans changed the Koran and betrayed him and God.


Sau khi Mohammed mất, người Mecca thay đổi Kinh Koran và phản bội ông và Thiên Chúa.


Mecca has ABSOLUTELY NOTHING to do with Abraham; Ishmael; Isaac or God.


Mecca KHÔNG CÓ LIÊN HỆ gì đến Áp-ra-ham, Ít-ma-ên, Y-sác hay Thiên Chúa.


God tells people repeatedly in the Koran to read the Bible e.g. Sura 6:154-157). The Meccans then claim that the Almighty God has allowed the Book, that He commands people to read, to have been lost forever. That is not logical and is an insult to God.


Thiên Chúa nói đi nói lại trong Kinh Koran rằng phải đọc Kinh Thánh. vd Sura 6:154-157). Người Mecca sau đó tuyên bố rằng Đấng Toàn Năng đã để cho Cuốn Sách, mà Ngài đã lệnh cho con người phải đọc, bị mất vĩnh viễn. Điều này thật rất vô lý và là một sự sĩ nhục đối với Thiên Chúa.


Of course the True Bible still exists as confirmed by God Himself in His Holy Koran (Sura 32:23) and the most accurate translation of The Bible in print is still the Authorised king James Bible in the old English, as confirmed by the "Dead Sea Scroll" of the Book of Isaiah (referred to in Sura 52:2-3) which in no way differs from the Book of Isaiah in the king James Bible.


Dĩ nhiên Kinh Thánh Thật vẫn còn như đã được xác nhận bởi chính Thiên Chúa trong Thánh Kinh Koran của Ngài (Sura 32:23) và bản dịch chính xác nhất của Kinh Thánh đang lưu hành hiện nay (thời điểm bài viết này ra đời) vẫn là Phiên Bản Vua James bản tiếng Anh c, như được xác nhận trong “các sách cuộn tìm được ở Biển Chết”, Sách của  Isaia/Ê-sai (nhắc tới trong Sura 52:2-3) và không có mâu thuẫn với Sách của Isaia/Ê-sai trong Kinh Thánh.


Therefore the moslems are calling God a liar, which is a satanic thing to do. Satan called God a liar in the Garden of Eden and God condemned Adam and Eve for believing Satan's lies. These satanic lies are now being continued by the moslems when they contradict God by saying that the True Bible no longer exists, after God has told us in His Holy Koran - Sura 32:23 that:-


Bởi vậy những người hồi giáo đang gọi Thiên Chúa là kẻ nói láo, là điều mà Satan làm. Satan gọi Thiên Chúa là kẻ nói dối trong vườn Địa Đàng và Thiên Chúa phạt Ađam và Êva vì tin vào những lời dối đó. Những lời dối trá từ satan đó hiện đang được tiếp tục phân phối bởi những người hồi giáo, khi họ nói nghịch lại lời Thiên Chúa, nói rằng Kinh Thánh Thật không còn tồn tại nữa, ngay khi Thiên Chúa đã nói trong Kinh Koran của Ngài - Sura 32:23 rằng:


"We did indeed aforetime give the Book (Torah) to Moses: be then NOT IN DOUBT of its (The Torah) reaching (THEE - the readers of this Koran - moslems): and We made it a Guide to the Children of Israel."


“Chúng tôi đã trao Sách đó (Torah) cho Mô-se: vậy nên CHỚ NÊN NGHI NGỜ CHI về việc nó (Ngũ kinh Torah) đến tay các bạn (các bạn: những ai đọc kinh Koran, người hồi giáo), và Chúng tôi trao nó như Sách Hướng Dẫn cho Con cháu Ít-ra-en.”


YAH - Muad'dib - AMEN

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

No Mosques - Không được lập nhà thờ


9:107. And there are those who put up mosques (etc.), by way of mischief and BETRAYAL - to disunite the Believers - and in preparation for one who warred against "I AM" (Revelation 12:7) and His Messenger aforetime. They will indeed swear that their intention is nothing but good; but "I AM" doth declare that they are certainly LIARS.


Sura 9:107 Và có những kẻ lập nên các loại nhà thờ (bao gồm tất cả các loại tôn giáo), đường dẫn tới tai họa và BỘI TÍN - gây chia rẽ giữa các Tín hữu (theo các loại tôn giáo khác nhau) - đi theo đường của kẻ chống nghịch lại Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (Khải huyền 12:7) và Sứ Giả của Ngài trước kia. Họ sẽ thề rằng dụng ý của họ chẳng gì khác ngoài sự tốt, nhưng Đấng Tự Hữu Hằng Hữu tuyên bố rằng họ chính là bọn LỪA DỐI.


9:108. Never stand thou forth therein. There is a Temple (House of God - Kaba - on Mt. Moriah) whose foundation was laid from the first day on piety; it is more worthy of the standing forth (for prayer) therein. In it are men who love to be purified; and "I AM" loveth those who make themselves pure.


9:108 Không được đứng trong đó. Có một Ngôi Đền (Nhà của Thiên Chúa - Kaba - tại núi Moriah) nơi nền móng được xây nên từ sự kính sợ và vâng phục Thiên Chúa (đễ hiểu rõ lý do xin tham khảo chương 9, Đường Về hay đối mặt hồ Lửa), nơi đó đáng là nơi đến. Nơi những ai đến là những ai mong muốn được thanh khiết hóa, và Đấng Tự Hữu Hằng Hữu yêu mến những ai như vậy.


9:109. Which then is best? - he that layeth his foundation on piety (a Rock - Matthew 7:24-27) to "I AM" and His Good Pleasure? - or he that layeth his foundation on an undermined sand-cliff ready to crumble to pieces? And it doth crumble to pieces with him, into the fire of Hell. And "I AM" guideth not people that do wrong (if they are doing wrong Satan is guiding them).


9:109 Các con nghĩ sao là tốt nhất? - kẻ chọn đặt nền móng họ trên sự Thật (Tảng Đá - Mat/Ma-thi 7:24-27) Thiên Chúa và những điều Tốt làm Ngài hài lòng? hay kẻ chọn đặt nền tảng của họ trên gạch đá sẽ tan thành vụn vỡ với thời gian. Và họ cũng theo đó, đến với lửa Địa Ngục. Và Đấng Tự Hữu Hằng Hữu không dẫn lối cho những ai làm điều sai trái (nếu họ làm sai nghĩa là Satan đang dẫn lối cho họ).


9:110. The foundation of those who so build is never free from suspicion and shakiness in their hearts, until their hearts are cut to pieces. And "I AM" is All- Knowing, Wise.


9:110 Nền móng mà họ xây dựng nên đó (các loại nhà thờ, đền điện) sẽ tạo ra sự ngờ vực và hoài nghi trong tâm trí họ, cho đến khi mọi thứ vỡ vụn. Và Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là Đấng Thông Tuệ, Hiểu rõ mọi sự.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

the story of Arthur and Excalibre – câu chuyện về Vua Arthur và thanh kiếm Excalibre (thanh kiếm trong Đá)

No-one has ever understood the story of Arthur and Excalibre – the Sword of Power (Ex-calibre - without equal) that he drew from the Stone. The story is very simple and perhaps that is why no-one has ever understood it, because people always try to physicalise and humanize things that are spiritual. "He who draws the Sword from The Stone shall be king", means quite simply that he who draws the Sword of the Spirit (God’s Truth) from The Stone (Christ) will be king. This is explained in more detail in my Book – "The Way home or face The Fire"

Chưa ai hiểu được câu chuyện về Arthur và thanh kiếm Excalibre- thanh kiếm Sức Mạnh mà ông đã rút ra khỏi Tảng Đá. Câu chuyện rất đơn giản và có vẻ như lý do khiến người ta chưa hiểu được nó, là bởi con người luôn muốn nhìn mọi sự theo khía cạnh vật chất và con người. "Người mà rút được thanh Kiếm ra khỏi Tảng Đá sẽ lên ngôi", có nghĩa là ai có thể rút được thanh Kiếm Thánh Linh (Sự Thật Thiên Chúa) từ Tảng Đá (Chúa/Đấng giác ngộ) sẽ lên ngôi. Điều này được giải thích rõ hơn trong "Đường Về hay đối mặt hồ Lửa", cùng tác giả.

Arthur; reputedly a descendant of Joseph of Arimathaea; prayed at the Holy Thorn site on Wearyall Hill, to find the Truth of Christ’s teaching and then returned the land to keeping The Covenant and God’s Law, instead of the laws of men, as Jesus taught and for which he was crucified.* This put Arthur, like Columba in Ireland, in direct conflict with the Roman church and its corrupted, churchified, idolatrous, ritualized ceremonies and teaching, which he fought and defeated with his famous Knights of the Round Table, bringing peace, health and prosperity to all, as God promised He would do, if people kept The Covenant. The Round Table, which is reputed to have been made by Uther Pendragon for his son Arthur, after the pattern of the Last Supper, or a copy, now hangs in the Great Hall of Winchester. The rules of the Round Table were from the Druidic, Levitical, Torah Law-principles and "Self"-sacrifice in the cause of King and country, as taught by Christ.

Arthur, hậu duệ của Joseph of Arimathaea (chú của mẹ Chúa Giê-xu), cầu nguyện tại cây Gai Thánh, đồi Wearyall để hiểu được Sự Thật/Chân lý của giảng dạy từ Chúa và sau đó trở lại vùng đất và giữ Giao Ước và Luật Pháp Thiên Chúa, thay vì luật pháp con người tự đặt, như những gì Chúa Giê-xu đã dạy và vì vậy ngài đã bị đóng đinh.* Điều đó làm cho Arthur, cũng như Columba ở Ai-len, đối nghịch với nhà thờ La mã và những giảng dạy xuyên tạc, nghi thức nghi lễ cúng tế, thần thánh hóa mà nó theo đuổi. Arthur đã chiến thắng với hội Hiệp Sỹ Bàn Tròn của ông, mang lại hòa bình, thịnh vượng cho mọi người, như lời hứa từ Thiên Chúa, nếu họ giữ Giao Ước. (Phần này tạm thời chưa dịch) Luật của hội Bàn Tròn đến từ những người thông thái (những người đến thăm viếng khi Chúa Giê-xu ra đời), từ người Lê-vi, các nguyên tắc từ Bộ Luật Torah và sự hy sinh "Bản thân" (diệt trừ bản ngã) vì Đức Vua và đất nước, như được dạy bởi Chúa.

* It is of note that some of the first words Pilate said to Jesus were "What is Truth?" These three words were passwords used by the British Druids and there are authorities who say that Pontius Pilate finished his education in a Druid College in Britain


Gradually, over a period of many years, there was the inevitable falling away again from the original teachings of Christ Jesus and Joseph of Arimathaea. As the Catholic Church became more and more powerful and involved in religion, so, many of the earlier teachings became lost and the simplicity of the Gospel was lost in the profound "mysteries" of Catholicism, followed closely by its daughter - Protestantism.

Dần dần, qua năm tháng, người ta rời xa giảng dạy thật từ Chúa Giê-xu và Joseph of Arimathaea. Khi Nhà thờ công giáo lớn mạnh lên và thành tôn giáo, những giảng dạy nguyên thủy bị thất truyền và sự thật Phúc Âm bị lạc giữa các giáo lý "bí ẩn" của Công Giáo, và các chi phái con cháu nó sau này - đạo Tin lành.

As Arthur was dying, he told Percival to find a lake of still waters (Ps. 23:2) and throw the Sword of Power into the lake, predicting this falling-away from the truth and that the people would not accept it from his successor, Percival at first refused, saying that the Sword (Truth) that Arthur had drawn from The Stone (Christ) must not be lost to mankind, but on Arthur’s reassurance, that one day The King (Christ) would come (in England to His British people) and the Sword would rise again, he obeyed Arthur and cast it into the lake of still waters (Ps. 23:2).

Khi Arthur sắp chết, ông nói với Percival hãy tìm một hồ nước yên tĩnh (Thi Thiên 23:2) và ném Thanh Kiếm xuống hồ, tiên đoán mọi người sẽ rời xa sự thật và họ sẽ không chấp nhận nó, Percival đầu tiên từ chối, nói rằng Thanh Kiếm (Sự Thật) mà Arthur đã rút ra khỏi Tảng Đá (Chúa/Đấng giác ngộ) không thể rời xa loài người được, nhưng Arthur trấn an ông rằng, rồi một ngày Vị Vua (Chúa trở lại) sẽ lại tới (trong một thân xác mới được sinh trưởng tại Anh) và Thanh Kiếm sẽ trỗi dậy. Ông sau đó nghe theo Arthur và ném thanh kiếm xuống mặt hồ yên tĩnh (Thi thiên 23:2)

The reason that the true identity of the British people, being the House of Israel, and therefore the fact that the British Throne is Christ’s Birthright, has been purposely kept from them, is because the monarchs, under God’s Law (Deuteronomy 17:14-20), are not allowed to use their position for personal gain of any kind. So the British monarchs, in league with the churches, have hidden their true identity from the British peoples in order to enable themselves and their friends to give them-selves grandiose false titles, seize lands and property and make up their own laws to enrich themselves, at the expense of the rest of the people. The churches have been assisted by them in this as is explained by Christ in Scripture (Rev. 17 & 18). This practice is strictly forbidden under God’s Law in the Bible, which is why God’s Law is not taught in schools, or churches and consequently this world that we live in is overflowing with so much greed, hatred, poverty, crime and filth.

Lý do danh tính thật sự của người Anh, là Nhà Y-ra-ên, và sự thật rằng Ngai vị của đế chế Anh là thuộc về Chúa, đã bị che dấu có chủ đích khỏi dân chúng, là bởi theo Luật của Thiên Chúa (Đệ nhị luật/phục truyền 17:14-20), hoàng gia Anh không được phép dùng vị trị họ để tư lợi. Do đó hoàng gia Anh cùng hội với hội thánh Anh, cùng che đậy danh tính thật của người Anh để có thể kết bè kết đảng cùng ban cho nhau tước hiệu, tước vị và các đặc quyền đặc lợi khác để chiếm hữu đất đai tài sản và tự đặt thêm luật lệ riêng hòng giàu thêm, đẩy dân chúng còn lại vào con đường cùng cực. Chúa đã tiên tri điều này trong Khải huyền 17&18, việc nhà thờ bắt tay với giai cấp cầm quyền lừa dân, giữ họ trong bóng tối. Hành động đó bị nghiêm cấm bởi Bộ Luật của Thiên Chúa, đó là lý do họ không dạy về Bộ Luật trong trường học, nhà thờ, và vì vậy thế giới ngày nay tràn ngập bởi lòng tham, hận thù, nghèo khó, dơ bẩn....

Churches, that Jesus told people not to visit, or build, have been used to teach people the lie, amongst others, that Jesus was very poor and so the people must try to emulate him and not complain about being forced into becoming poor, because, in being poor, they are supposedly following in Jesus’ footsteps, thereby enabling their powerful friends to further enrich themselves, with little or no resistance from the people. The British church leaders are also members of parliament and have actually worked with the monarchy and their powerful friends to pass legislation that God says is prohibited.

Các loại nhà thờ, mà Chúa đã dặn các con không được tham gia, hay chung sức xây dựng, đã được dùng để dạy mọi người dối trá, ví như việc Giê-xu là một người nghèo khó, để mà người ta theo gương và không phản khán khi họ bị ép vào đường khổ cực, bởi, khi khổ cực, họ đang đi theo đường của Giê-xu, bởi thế cho phép tầng lớp giàu có và bè đảng tiếp tục tư lợi, khi người ta phản ứng yếu ớt. Lãnh đạo của giáo hội Anh cùng lúc là thành viên quốc hội và thực cũng đang chung tay với hoàng gia Anh và bè lũ ra sức viết thêm nhiều luật lệ thuế má, điều mà Thiên Chúa nghiêm cấm.

Source: http://jahtruth.net/glaston.htm